Thi đua dạy tốt học tốt

Làm theo lời Bác

Website văn học

Liên kết website

CHÚC MỪNG SINH NHẬT

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Hoàng Anh Tuấn)

Tìm hiểu về Đảng

Tìm hiểu về Pháp luật

Tự hào Việt Nam

Huế xưa và nay

Hỗ trợ kiến thức

Cảnh đẹp quê hương

TỪ ĐIỂN VIỆT, ANH, PHÁP...


Tra theo từ điển:


Làm website giá rẻ !

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên
    Gốc > Di sản văn hóa >

    Thánh Tản Viên Sơn Tinh


    http://d.violet.vn/uploads/resources/351/0.st.jpgSơn Tinh người động Lăng Sơn, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây. Bố là ông Nguyễn Cao Hạnh, mẹ là Đinh Thị Điên. Khi ông Hạnh 70 tuổi, bà Điên cũng đã hơn 50 mới sinh được con trai tướng mạo phi phàm, hình dung tuấn tú, dáng người hiên ngang khôi ngô gấp vạn người thường, đặt tên là Nguyễn Tuấn.

    Lên sáu tuổi, bố mất, Nguyễn Tuấn đổi tên là Nguyễn Huệ. Năm lên bảy tuổi. mẹ con dắt nhau lên núi Ngọc Tản ngụ cư. Nguyễn Huệ được Ma Thị chủ núi Ngọc Tản nhận làm con nuôi, sau đổi tên thành Nguyễn Chiêu Dung. Một năm sau, mẹ mất Nguyên Chiêu Dung ở lại Ngọc Tản cùng Ma Thị. Một hôm Chiêu Dung vào rừng chặt phải cây thần gặp Sơn Tinh đại thần tên gọi Tinh Thần Tử Huy thiên tướng, được trao cây gậy đầu sinh đầu tú để cứu giúp đời. Từ đó, Nguyễn Chiêu Dung tự xưng thần sư, thường đi ngao du thiên hạ. Một hôm trên đường đến châu Trung Độ (còn gọi là châu Trường Sa), xã Ma Xá, ông bỗng thấy trẻ con chǎn trâu xúm đánh một con rắn bèn bỏ ra ba mươi đồng mua lại con rắn rồi dùng gậy thần cứu rắn. Rắn đen vốn là Thủy Tinh con trai Long Vương. Cảm tạ công ơn cứu Thủy Tinh, Long Vương ban cho Sơn Tinh sách ước.

    Lúc bấy giờ, vua Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) đóng đô ở Việt Trì sông Bạch Hạc, lấy hiệu nước Văn Lang, thủ đô là Phong Châu. Vua Hùng mở cuộc thi tài kén rể cho công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa. Nghe tin, Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng xin được diện kiến.

    Vua cả mừng bèn ngự giá sông Bạch Hạc xem tỷ thí. Lúc bấy giờ, Sơn Tinh đến đầu sông. Thuỷ Tinh trở về đáy sông. Khoảnh khắc bỗng thấy dòng sông mây mưa nổi lên. sóng cồn cuồn cuộn, ào ào gió cuốn, cá rùa lớp lớp, kình ngư vạn dặm, trời đất mịt mù, thiên hình vạn trạng xuất quỷ nhập thần. Người ngoài nhìn vào kinh hồn lạc phách. Sơn Tinh bèn tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng niệm thần chú, tay chỉ một cái, bỗng thật kỳ quái, hốt nhiên ngũ nhạc bay đến giữa sông, núi cao vạn trượng, thú rừng chạy đến tấn công Thủy Tinh. Một tiếng trống nổi lên giữa sông, quân thủy tan tành, tiêu biến một cách huyền diệu.

    Vua không biết gả công chúa cho ai bèn xa giá về cung rồi triệu hai vị Sơn Tinh và Thủy Tinh triệu kiến bảo rằng: Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điều (một con gái) trước chưa kén được rể, nay cả hai khanh đều là anh hùng, không biết gả cho ai. Vậy ai có thể đem sính lễ đến trước thì trẫm gả con gái cho.

    Sơn Tinh nhờ có sách ước chuẩn bị xong lễ vật đến đón công chúa trước. Thủy Tinh đến sau, nổi giận dâng nước tiến đánh Sơn Tinh. Do có sách ước lại có phép thuật bí mật của thần tiên cho nên Thủy Tinh không sao hại được. Đất nước được thanh bình.

    http://thanhtanvien.com/bavi/images/stories/thien_dia_nhan/nhan_kiet/thanh_tan_vien.jpg

                                                         Ảnh vẽ Thánh Tản Viên

    Theo Ngọc phả Đền Lăng Xương do ông tiến sỹ Nguyễn Hữu Công, quan Đô Đốc Thượng Thư cùng với ông Nguyễn Công Chính và Nguyễn Minh Khai lập vào ngày 15  tháng 11 năm 1011 đời Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên thứ III có chép lại rằng : Thánh Tản Viên – Sơn Tinh tên thật là Nguyễn Tuấn, con trưởng ông Nguyễn Cao Hành và bà Đinh Thị Đen (còn gọi là Bà Thái Vĩ), hai ông bà sinh sống ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ). Tương truyền một hôm bà vào rừng kiếm củi, đến Thạch Bàn bỗng thấy mây lành bao phủ, rồng vàng bay xuống phun nước như mưa, khí thiêng lan tỏa. Sau khi rồng bay đi, bà thấy hương bay ngào ngạt, nước giếng trong như ngọc, bà liền xuống tắm rồi mang thai từ đấy. Mười bốn tháng sau, đúng ngày rằm tháng giêng năm Đinh Tỵ, giữa giờ thìn bà trở dạ sinh hạ được một cậu con trai tướng mạo khôi ngô, tuấn tú khác thường.

    Sau một trăm ngày ông bà đặt tên cho con mình là Nguyễn Tuấn. Nguyễn Tuấn được sáu tuổi thì cha mất, bà chôn cất chồng rồi đưa con sang núi Tản, ngày ngày vào rừng đốn củi để tìm kế sinh nhai. Cùng lúc đó Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng là hai anh em sinh đôi con ông  chú ruột cũng mồ côi cha mẹ. Bà Đen tần tảo sớm hôm nuôi con và hai cháu trong cảnh rau cháo qua ngày. Nguyễn Tuấn gặp được bà Ma Thị - Cao sơn thần nữ (bà chúa Thượng Ngàn) nhận làm con nuôi. Năm mười hai tuổi Nguyễn Tuấn  theo học Lý Đường Tiên Sinh và đổi tên là Nguyễn Tùng, Ngài được Thái Bạch Thần Tinh ban cho “ chiếc gậy đầu sinh đầu tử” (gậy trúc thượng võ), được Long Vương(Thủy Tề) tặng cho cuốn “Thần thư pháp quyền” (sách ước) để làm ra nhiều phép màu nhiệm cứu dân, độ thế.

    Nguyễn Tuấn đã trở thành người cứu độ, tài cao, văn võ song toàn, có phép thần thông biến hóa và trở thành vị thần (Thánh) của núi Tản Viên – Thần Sơn Tinh (thần núi, thần sư). Đời sau có thơ rằng:

                                          Lăng Xương cốt cách ngọc tinh thần

                                          Mang dấu rồng thiêng xuống hạ trần

                                          Thái Vĩ cũng là tiên thượng giới

                                          Sinh ra Thánh Tản ở động này.

    Chuyện kể rằng đời Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương), nhà Vua có hai người con gái, người chị tên Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử, người em tên là Ngọc Hoa, nhan sắc tuyệt trần. Vua muốn chọn người tài kén làm phò mã, nên đã cho xây lầu, kén rể ngoài thành. Một hôm có hai người đến cầu hôn, một người xưng là Sơn Tinh, một người xưng là Thủy Tinh ở bể Nam Hải. Hai người đã cùng thi tài nhưng không phân thắng bại. Vua Hùng không biết chọn ai, nên đã đưa ra một lễ vật thách cưới rất đặc biệt với: “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” và ra điều kiện : Nếu ai đưa lễ vật đến trước thì Vua gả con gái cho. Nhờ có sách ước, Sơn Tinh đã thực hiện đúng yêu cầu của nhà Vua được lấy công chúa Ngọc Hoa làm vợ. Kẻ tình địch mang long thù hận đã mở cuộc thủy chiến để chiến đấu với Sơn Tinh. Ngày nay trên núi Ba Vì và vùng phụ cận còn để lại nhiều dấu tích, sự tích mang tên đất, tên làng liên quan đến truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh.

    Tương truyền  vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên (258 TCN) có Thục Chế là cháu họ Vua Hùng làm Lạc tướng ở bộ lạc Tây Vu (nước Lào ngày nay) đã cho con trai của mình là Thục Phán sang cướp nước Văn Lang vì ghen tức không lấy được Ngọc Hoa công chúa. Cuộc chiến tranh Hùng – Thục xảy ra ác liệt và Sơn Tinh đã phải ra tay dẹp loạn, đất nước mới trở lại bình yên. Sau khi đánh thắng quân Thục, Sơn tinh khuyên Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán và được Vua Hùng chấp nhận. Thục Phán lên ngôi, hiệu là An Dương Vương, và lấy tên nước là Âu Lạc . Cảm kích trước  tấm long đại nhân, đại nghĩa của Vua Hùng và Sơn Tinh, Vua Thục đã lập  “ Cột đá thề” trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để nguyện giữ gìn cơ nghiệp của tổ tông và thờ phụng Vua Hùng mãi mãi.

    Tục truyền ngày rằm tháng Giêng Ngài sinh. Ngày mồng sáu tháng mười một Ngài hóa thân về trời. Cùng với Thánh Gióng (Phù đổng thiên vương), Chử Đổng Tử (Chử đạo tổ), bà chúa Liễu Hạnh. Thánh Tản Viên – Sơn Tinh là vị Thánh đứng đầu trong bốn vị “Tứ bất tử” của dân tộc ta từ ngàn xưa.

    Với tư tưởng “Thời chiến dụng võ, thời bình dụng văn”, biết liên mình các bộ tộc lại với nhau để đoàn kết giữ nước và dựng nước, Thánh Tản Viên – Sơn Tinh đã có công xây dựng lên một quốc gia Âu Lạc bền vững để ra đời nền văn hóa trống đồng nổi tiếng sau này.

    Vua Trưng Vương (Trưng Trắc) sắc phong Ngài là : “Tản viên sơn quốc chúa đại vương Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần”. Vua Trần Nhân Tông(1279 – 1293) sắc phong ngài là “Hữu thánh hưng quốc hiển ứng vương”. Vua Tự Đức (1883) phong Ngài là thượng đẳng tối linh thần” v.v…
    Thánh Tản Viên – Sơn Tinh không chỉ sống trong lòng dân, mà cả văn học thành văn từ nhiều thế kỷ trước đã ghi chép nhiều chuyện về Ngài như: “Việt điện u linh”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thánh Tông di ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục” v.v… Những công tích của Ngài được nhân dân thần thánh hóa thành các lễ hội, tích trò để lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau. Ngài được phong là “Tản Viên Sơn quốc chúa kiêm Thượng đẳng thần” và được suy tôn là:

                                                  Tản Viên sơn thần

                                                  Đệ nhất phúc đẳng thần

                                                  Đệ nhất bách thần

                                                  Thượng đẳng tối linh thần

                                                  Nam thiên thánh tổ.

    Sơn Tinh là thần, hơn thế nữa lại là thần “bất tử”. Ngài là vị thần khai sáng văn hóa vị anh hung chống lũ lụt, anh hung chống ngoại xâm và là vị thần liên minh các bộ tộc Việt – Mường, là hồn thiêng sông núi, mãi mãi đi vào tâm thức của người dân đất Việt.

                                                  Ba Vì cao ngất tầng mây

                                          Sơn Tinh chuyện cũ đến nay còn truyền

    -------------------

    Núi Ba Vì - Tản Viên

    Ba Vì là một dãy núi đất và đá vôi lớn trải trên một phạm vi rộng chừng 5000 ha ở ba huyện Ba Vì (Hà Nội), Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hòa Bình), cách nội thành Hà Nội chừng 60km.

    http://www.trochoikynang.com/ac/uploads/News/pic/1254890864.nv.jpg

    Trên Ba Vì có nhiều ngọn núi, nhưng nổi tiếng nhất là Tản Viên (còn gọi là Ngọc Tản, Tản Sơn, hoặc Phượng Hoàng Sơn). Núi này cao 1281m[1], gần đỉnh thắt lại, đến đỉnh lại xòe ra như chiếc ô nên gọi là Tản (傘). Chân núi này có đền Hạ, lưng chừng núi có đền Trung, đỉnh núi có đền Thượng là nơi thờ Sơn Tinh (Đức Thánh Tản). Ngoài Tản Viên, trên Ba Vì còn có các núi cao là Ngọc Lĩnh, Tương Miêu, U Bò, Núi Tre, Ghẹ Đùng, Trăm Voi, Ngọc Hoa (đặt theo tên của công chúa con vua Hùng thứ XVIII được gả cho Sơn Tinh), và núi Vua. Núi Vua cao nhất, tới 1296m[2]. Trên đỉnh núi Vua có đền thờ Hồ Chí Minh.

    Ở chân núi phía Tây của dãy Ba Vì có dòng sông Đà, phía Đông có hồ nhân tạo Suối Hai dài 7km, rộng 4km với 14 đảo lớn nhỏ thực chất là những ngọn đồi nhô lên mặt nước.

    Trên dãy Ba Vì còn có nhiều cánh rừng nguyên sinh. Hệ sinh thái động thực vật của Ba Vì rất đa dạng. Vườn quốc gia Ba Vì là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học của Ba Vì.

    Ba Vì còn là một khu du lịch sinh thái nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam với các điểm du lịch như Khoang Xanh-Suối Tiên, khu du lịch Ao Vua, Đầm Long, Thác Đa, hồ Tiên Sa, suối nước khoáng Tản Đà, các đền thờ. Ở các độ cao 400m và 600m còn có hai khu nghỉ mát được xây dựng từ thời Pháp thuộc.

    Truyền tích núi Ba Vì

    Theo sách “ Bắc – Thành Địa dư chí” của Lê Đại Cương chép : “ Núi này ở huyện Bất Bạt, phủ Quảng Oai (nay là huyện Ba Vì, Hà Nội). Hình núi tròn như cái tán nên gọi là Tản Viên, rộng rãi bao la, đứng cao hùng vĩ, làm trấn sơn cho cả một vùng, cao 2.310 trượng, chu vi 18.605 trượng, hướng tây có sông Đà chảy quanh theo, rừng cây rậm rạp, cảnh trí đẹp”. Tại Đền Và thờ Thánh Tản Viên (Sơn Tinh) có đôi câu đối:

                           Châu hình đẩu tiễn thiên hoành không
                           Hạo khí quan mang vạn cổ tồn

    Có nghĩa là :

                           Dáng hình sừng sừng ngang trời rộng
                           Hạo khí mênh mang vạn thưở còn.

    Núi Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng xen kẽ đồi gò, được tạo lập bởi sự xâm thực, chia cắt các thềm đá gốc và thềm phù sa cổ sông Hồng, Địa chất ở Ba Vì rất bền vững, được hình thành từ những cuộc chuyển động kiến tạo xảy ra vào cuối Triat muộn (khoảng 210 triệu năm về trước) trong khu vực Đông Dương và Trung Quốc, hình thành từ những cuộc vận động tạo sơn Idosinias.

    Theo các tài liệu nghiện cứu về khảo cổ học thì vùng đất xứ Đoài, nơi có núi Ba Vì còn rất nhiều các hiện vật bằng Đá như rìu, bàn mài, chì lưới, mũi nhọn, bàn dập, hòn kè, giáo, đục, mũi tên, đồ trang sức và nhiều các hiện vật là đồ đồng, đồ gốm có niên đại từ thời văn hóa Sơn vi, tồn tại qua bốn giai đoạn văn hóa kế tiếp nhau từ thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, đến Đông Sơn cách ngày nay hang nghìn năm.

    Dưới triều Nguyễn, năm Bính Thân, Minh mạng thứ 17 (1836) đúc “ Cửu Đỉnh” biểu tượng cho uy thế và sự bền vững của nhà nguyện. Minh Mạng còn cho chạm hình núi Tản Viên vào Thuần Đỉnh (cao 2,32m, nặng 1.950 kg) cùng với cửa Cần Giờ và song Thạch Hãn. Đời Tự Đức năm thứ 3, Canh Tuất (1850) liệt Tản Viên vào hàng những núi hung vĩ, giang sơn của đất nước và được ghi chép vào Tự điển để cúng tế hàng năm.

    Núi Ba Vì còn chiếm một vị trí quan trọng, không những về mặt địa lý mà còn có địa vị độc tôn trong tâm linh người xưa như đỉnh Olympus (cao 2.917m) nơi ngự trị của chúa thần Deus (Dớt) của người Hi Lạp cổ. Trong sách “ Dư địa chí” Nguyễn Trãi viết : “Núi ấy là núi tổ của nước ta đó”.

    Trong nhiều thế kỉ qua, nhiều sách vở, công trình nghiên cứu đã có một số kết luận về nền văn hóa dân gian xứ Đoài gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh liên quan đến núi Ba Vì.

                    Nhất cao là núi Ba Vì, thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn.

    Sự thực núi Ba Vì chỉ cao 1.296m, núi Tam Đảo lại cao đến 1.581m, nhưng vì núi này là nơi ngự của Thần núi (thần Tản Viên), nên được nhân dân tôn vinh thành ngọn núi cao nhất, thiêng liêng nhất. Núi cao ở đây là cao trong tâm thức, không phải độ cao thấp đơn thuần về mặt địa lý. Truyền thuyết còn kể lại rằng núi Ba Vì là do Sơn Tinh dùng sách ước nâng núi lên cao, để ngăn nước lũ chống Thủy Tinh.

    Nếu lấy núi Nghĩa Lĩnh (cố đô của nước Văn Lang thời tiền sử) làm tâm điểm thì núi Ba Vì và núi Tam Đảo là hai điểm đối xứng tạo thành “Thế tay ngại” trong luật phong thủy do triều đại Vua Hùng tạo lập. Xứ Đoài đã ôm cả ba dòng sông lớn: Sông Đà, sông Thao, sông Lô. Ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp thành của ba dòng sông ấy để rồi tụ thủy ở đầu sông Cái (sông Hồng) tạo dựng thành vùng châu thổ trù phú của đồng bằng Bắc Bộ ngày nay.

    Núi Ba Vì không chỉ là ngọn núi huyền thoại về Sơn Tinh – Thủy Tinh mà còn là ngọn núi linh của xứ Đoài. Vua nhà Đường đã coi núi Ba Vì như một đầu rồng hùng mạnh, còn thân rồng chạy suốt tời phương Nam (dãy Trường Sơn ngày nay). Để nước Nam không thể phát Vương, vua Đường đã cử Cao Biền (vị tướng kiêm phù thủy) dùng pháp thuật cho đào một trăm cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì để trấn yểm tà triệt long mạch nước ta. Nhưng cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên chúng đành phải bỏ cuộc bởi dãy núi thiêng của nước Đại Việt.


    Quanh núi Ba Vì nhiều tên đất, tên làng, tên vạt đồi đồng nội, tên dòng sông, khe suối, địa danh, địa hình, địa vật, đầm hồ, bờ bãi, đình, đền, miếu mạo và những con người còn in đậm trong sự tích và chuyện kể dân gian xứ Đoài gắn liền với truyền thống Sơn Tinh.

    Những quả đồi Mòm, dẫy gò Choi thuộc vùng Tòng Lệnh, ở phía Bắc núi Ba Vì; những trái núi ở vùng Sụ Đá, La Phù và Thạch Khoán; những hòn núi Chẹ và dãy nũi đá Chèm ở phía Tây thuộc mạn Sông Đà; những dãy đồi Máng Sòng, Đồi Giếng ở phía Đông núi Ba Vì là những chiến tích của Sơn Tinh, ngày đêm ghánh đất để lập thành phòng tuyến chống lại Thủy Tinh. Về sự tích” Đồi Đùm đứt quai, đồi Vai lọt sọt”. Chuyện xưa kể lại rằng đồi Vai cao nhất ở xã Kim Sơn là tảng đá rơi vì sọt thủng, còn dãy đồi Đùm san sát kéo dài ở xã Xuân Sơn là do đứt quang, đất đổ ra nhiều trên dọc con đường Sơn Tinh ghánh đất. Chuyện cắm chông chà ở bãi Đá Chông, thả rong rào, chăng lưới ở vùng suối Cái, cho quân gieo hạt mây thành rừng quanh núi U bò, ném lạt tre tạo thành lũy tre dày ở vùng ngòi lặt, lao gỗ đá từ trên núi xuống tạo thành mười sáu ngả ở vùng Đầm Đượng v.v… là những phương kế của Sơn Tinh.

    http://thanhtanvien.com/bavi/images/stories/di_tich_vh_tam_linh/den_thuong_tu_tran/denthinh1.jpg

                                                           Cổng đền thờ Thánh Tản ở núi Ba Vì

    Trên bãi chiến trường xưa còn có nhiều dấu tích như suối Di, sông Tích, ngòi Tôm, đầm Mom, đầm Mít, đầm Sui, xóm Rùa, xóm Cá Sấu ở Vân Sơn xã Vân Hòa; thôn Rắn Giải ở Phụ Khang thuộc xã Đường Lâm; Thuồng Luồng ở Cầu Hang vùng sông Tích thuộc xã Thanh Mỹ; Thủy quái ở Ghềnh Bợ trên dải sông Đà… là những trận đồ tàn binh, bại tướng của Thủy Tinh. Những truyền thuyết dân gian về cuộc giao chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh chững tỏ tổ tiên ta đã bắt đầu cuộc trị thủy mở mang bờ cõi từ hạ lưu sông Đà, sông Tích để tạo ra một vùng núi Ba Vì trù phú như ngày nay.

    Cùng với xứ Đoài xưa, vùng núi cổ Ba Vì là cả một kho tàng thần thoại, truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, giai thoại v.v… rất phong phú và đa dạng, Nơi đây là vùng đất địa linh sinh ra nhiều nhân kiệt. Đất hai vua (Ngô Quyền và Phùng Hưng). Hai vị tướng là Khổng An, Khổng Thạc thời Thục Phán đã giúp vua Thục đánh tan quân Tần, quân Triệu. Bà Man Thiện thân mẫu của hai vị tướng Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hai Bà đã dấy cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Hán. Vị tướng Phùng Lộc Hộ giúp vua Trần Thái Tông đánh giặc Nguyên - Mông. Trần Quốc Trân và Trần Ngũ Nương là các danh tướng thời Trần. Tiến sỹ Lê Anh Tuấn được phong làm Hình bộ thượng thư (Tể tướng) đời Lê Hy Tông và được cử làm chánh sứ sang Tàu. Đệ nhị giáp tiến sỹ, hàn lâm viện trưởng, Đông các đại học sỹ, Lưỡng quốc thượng thư Nguyễn Sư Mạnh đời Lê. Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng trong “Tràng An tứ hổ” là cha đẻ của Nguyễn Bá Lân làm quan đến Thái tể lục bộ thượng thư. Họ Phạm Doãn với sáu người được phong Quận công về việc phò Lê diệt Mạc. Trạng nguyên Phạm Trấn lập nên làng Đan Thê đầu thế kỷ 16. Hoàng hậu Phan Thị Uyển vợi Mai Thúc Loan. Bà Nguyễn Thị Ngọc Dong, nguyên phi chúa Trịnh Tráng, người có công tạo dựng chùa Mía (1632). Sứ thần Giang Văn Minh, người đã xóa nợ Liễu Thăng cho dân tộc với câu đối bất hủ “ Đằng giang tự cổ huyết do hồng”. Nhà thơ, nhà báo nổi tiếng Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu. Cụ Phan Kế Toại bộ trưởng Bộ Nội vụ. Cụ Hà Kế Tấn, bộ trưởng Bộ Thủy lợi cùng nhiều các quan chức danh nhân nổi tiếng các thời.

    Tài nguyên thiên nhiên núi Ba Vì rất phong phú, đa dang. Khí hậu núi Ba Vì trong lành mát mẻ. Năm 1932 thực dân Pháp đã chọn núi Ba Vì là nơi nghỉ mát lý tưởng ở đồng bằng Bắc Bộ, giống như Sa Pa ở Tây Bắc, như Đà Lạt ở Tây Nguyên. Hiện nay trên núi Ba Vì còn nhiều phế tích thuộc thời Pháp như nhà thờ đạo, Trại cô nhi viện (cốt 800), khu hành chính (cốt 400), khu quân sự và khu sinh hoạt của sỹ quan Pháp (cốt 600 – 700), Trại tù (cốt 1100). Vùng núi Ba Vì có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiềng như Ao Vua, Khoang Canh – Suối Tiên, Thác Mơ, Thác Đa, Thác Ngà, Thác Hương, núi Đá Chẹ, rừng thông Đá Chông (K9), hồ Xuân Khanh, hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô – Ngải Sơn, hồ Tiên Sa, hồ Suối Cả, hồ suối Bóp, hồ suối Mít, đồi cò Ngọc Nhị, khu Đầm Long v.v… Trong vườn quốc gia Ba Vì còn có Đền thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh, khu di tích lịch sử cách mạng (cốt 600) và nhiều di tích, phế tích khác.

     http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/10/2009/05/ngay15/dsdf2.jpg

                                                             Đền thờ Bác Hồ ở núi Ba Vì

    Khu vực núi Ba Vì hiện có gần 100 ngôi Đình, Đền thờ Thánh Tản Viên – Sơn Tinh như Đền Trung, Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Đá Đen, Đền Vật Lại, Đền Măng Sơn, Đền Khánh Xuân, Đền Vật Lai, đình Yên Nội, Đình Tây Đằng, đình Mỗ Lao, đình Quất Động, đình Đông Viên, đình Quan Húc, đình Phú Thứ, đình Thanh Hùng, đình Thụy Phiêu v.v…


    Núi Ba Vì là ngọn núi thần kỳ, là một trong những ngọn núi cổ nhất của nước Đại Việt. Những phát hiện về khảo cổ học vùng văn hóa cổ Ba Vì đã chứng tỏ đây là một vùng truyền thuyết lớn phát triển sớm trong lịch sử hình thành dân tộc. Núi Ba Vì còn là nơi ngự trị muốn đời của Thánh Tản Viên – Sơn Tinh, Ngài là vị thần tối linh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

     

    Trở về trang đầu

    ----------------------

    Nguồn internet


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Anh Tuấn @ 15:27 14/11/2009
    Số lượt xem: 1516
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị đã đến với website Ngữ văn trường THPT Vinh Xuân
    www.vanvx.tk