Thi đua dạy tốt học tốt

Làm theo lời Bác

Website văn học

Liên kết website

CHÚC MỪNG SINH NHẬT

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Hoàng Anh Tuấn)

Tìm hiểu về Đảng

Tìm hiểu về Pháp luật

Tự hào Việt Nam

Huế xưa và nay

Hỗ trợ kiến thức

Cảnh đẹp quê hương

TỪ ĐIỂN VIỆT, ANH, PHÁP...


Tra theo từ điển:


Làm website giá rẻ !

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên
    Gốc > Chân dung tác gia văn học Việt Nam >

    Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741-1798)

     
    nguyen_gia_thieu
    Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), tức Ôn Như Hầu là một nhà thơ thời Lê Hiển Tông. Ông là tác giả Cung oán ngâm khúc, tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam.
     
    I. Tiểu sử
     
    Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 5 tháng 2 năm Tân Dậu[1], tức ngày 22 tháng 3 năm 1741, cuối thời vua Lê chúa Trịnh, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình.

    Ông nội Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Châu, một võ quan nhưng thông kinh sử được phong tước công. Cha của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Cư, một võ quan cao cấp được phong tước hầu. Mẹ của ông là quận chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cương. Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là anh em họ với chúa Trịnh Sâm. Vợ của Nguyễn Gia Thiều là con gái trưởng của quan Chưởng phủ sư Đại tư đồ Bùi Thế Đạt.

    Vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa, nên từ lúc lên năm, sáu tuổi Nguyễn Gia Thiều đã được vào học trong phủ chúa. Năm 1759 khi mới 18 tuổi, ông giữ chức Hiệu úy, quản Trung mã tả đội. Sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự, năm 1782 thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hóa. Nguyễn Gia Thiều là một người rất được chúa Trịnh tin dùng. Vì có công nên ông được phong tước hầu - Ôn Như Hầu. Các em của ông cũng lần lược được phong tước hầu, tước bá, như Nguyễn Gia Thưởng là Thưởng Vũ Bá; Nguyễn Gia Xuyên là Du Lãnh Bầu.

    Thời gian làm Tổng binh ở Hưng Hóa, mặc dù có công được khen thưởng, Nguyễn Gia Thiều vẫn thường hay bỏ về nhà riêng ở gần hồ Tây để vui chơi, làm thơ và cùng bạn bè bàn luận về triết học. Ông tự xưng là Hy Tôn tử và Như ý thiền, lấy biệt hiệu là Tân Thi viện tử và Sưu Nhân. Có người bảo giai đoạn này chúa Trịnh không còn tin ông như trước, mới đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hóa, và Nguyễn Gia Thiều biết điều đó, nên ông chán nản bỏ về.

    Năm 1786, khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên miền núi xứ Hưng Hóa. Năm 1789, Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, lập ra triều Tây Sơn. Vua Quang Trung trọng người tài, thu dụng một số quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn Gia Thiều được mời ra cộng tác, nhưng ông cáo bệnh từ chối. Nguyễn Gia Thiều về lại làng cũ, sống ở đấy cho tới khi mất vài ngày 9 tháng 5 Mậu Ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 57 tuổi.

    II. Sự nghiệp văn học

    Nguyễn Gia Thiều là người có sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học. Ông còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Về âm nhạc, Nguyễn Gia Thiều sở trường các bài ca, bài tán, ông là tác giả các bản Sơn trung âmSở từ điệu. Về hội họa, ông có bức tranh lớn Tống sơn đồ, dâng vua xem được khen thưởng. Về kiến trúc, trang trí, ông là người được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích. Các công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn được lưu lại.

    Về sáng tác, Nguyễn Gia Thiều có hai tập thơ chữ Hán là Ôn Như thi tập, khoảng một nghìn bài, nhưng đã thất truyền. Những tác phẩm chữ Nôm, ngoài Cung oán ngâm khúc, ông còn có Tây hồ thi tậpTứ trai thi tập, hiện cũng chỉ còn vài ba bài chép trong tập Tạp ký của Lý Văn Phức như Cảnh trong vườnMiếng tình.

    Nguyễn Gia Thiều tuy thuộc tầng lớp quý tộc, nhưng sống trong một thời kỳ nhiều biến động, loạn lạc. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc của ông nói lên tâm trạng ai oán của một cung phi sống trong hoàng cung. Nhiều nhà phê bình đánh giá Cung oán ngâm khúc chịu ảnh hưởng bởi Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm[2], từ thể loại ngâm khúc viết bằng song thất lục bát đến cách phát triển chủ đề cũng như bút pháp nghệ thuật.

    Nguyễn Gia Thiều có nhiều con, trong số đó bốn người con đầu giỏi văn chương, có một tác phẩm chung là Tứ trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai - tức Nguyễn Gia Thiều, Kỷ Trai - Nguyễn Gia Cơ, Hoà Trai - Nguyễn Gia Diễm và Thanh Trai - Nguyễn Gia Chu.

    Tên của ông được đặt cho một phố yên tĩnh, có nhiều biệt thự kiến trúc Pháp ở thủ đô Hà Nội, gần hồ Thiền Quang và ở nhiều thành phố khác của Việt Nam.

    III. Tác phẩm:  Cung Oán Ngâm Khúc

    Cung oán ngâm khúc (chữ Hán: 宮怨吟曲) hay gọi tắt là Cung oán ngâm là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát.

    1. Tóm tắt nội dung

    cung_oan_ngam_khuc_400Cung oán ngâm khúc là bài ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, lúc đầu được nhà vua yêu chuộng, ái ân hết sức nồng nàn thắm thiết "mây mưa mấy giọt chung tình - đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn", nhưng chẳng bao lâu đã bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc "chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi". Cung nữ khát khao muốn "đạp tiêu phòng mà ra" để trở về với cảnh đời "cục mịch nhà quê" thuở trước, nhưng nàng vẫn tiếp tục bị giam cầm trong cung điện vàng son, trong nỗi buồn đau sầu thảm và oán hờn chất chứa. Cuối cùng, nàng vẫn khát khao có lại những cuộc ân ái hiếm hoi khi xưa "giọt mưa cửu hạn còn mơ đến rày", vẫn mong chờ được nhà vua đoái hoài đến trong nỗi niềm tuyệt vọng:

    Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi
    Những hương sầu phấn tủi sao xong?
    Phòng khi động đến cửu trùng
    Giữ sao cho được má hồng như xưa?

    2. Ý nghĩa

    Cung oán ngâm khúc là tiếng thét oán hờn của một trang nữ lưu tố cáo và phản kháng chế độ phong kiến đã đối xử phũ phàng tàn ác đối với phẩm giá và những tình cảm trong sáng, cao quý của người phụ nữ. Cung nữ chính là nạn nhân bi thảm của những đặc quyền phong kiến ích kỷ và vô nhân đạo, bị vua chúa biến thành đồ chơi để thoả mãn thú tính hoang dâm của mình, rồi bị ném đi không thương tiếc vào lãng quên. Nguyễn Gia Thiều là một văn hào uyên thâm và chứa chan tinh thần nhân đạo đã thấu hiểu nỗi lòng của người cung nữ, đã dồn hết tâm huyết và văn tài để viết nên một tác phẩm bất hủ, đau đớn xé lòng về cuộc đời nàng.

    3. Giá trị nghệ thuật

    Ngôn ngữ trong Cung oán ngâm khúc hết sức tài hoa, đài các, tinh xác và nhuần nhị, dùng nhiều chữ Hán và điển tích, điển cố như: gió vàng hiu hắt, lạnh ngắt như đồng, thân phù thế, mùi tục luỵ, mồi phú quý, bả vinh hoa, cánh buồm bể hoạn, hoa chúm chím chào, cợt đào ghẹt mai, thánh thót cung đàn, nỉ non tiếng địch, gay gắt điệu, tê tái lòng, má đào chon chót, âm thầm chiếc bóng, hồn bướm vẩn vơ, dế ran ri rỉ, quyên kêu ra rả...

    Câu thơ trong Cung oán ngâm khúc được trau chuốt đến mức tuyệt xảo, âm điệu góc cạnh và dữ dội, dùng nhiều ngoa ngữ; mỗi câu thơ như dao khắc chạm vào đá gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ:

    Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió
    Áo vũ kia lấp ló trong trăng

    hay

    Thân này uốn éo vì duyên
    Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời!

    Đó là những câu thơ "kinh nhân" mà Đỗ Phủ xưa kia muốn đạt tới.

    Thể thơ song thất lục bát làm cho nhạc điệu của Cung oán ngâm khúc hết sức réo rắt bởi sự hoà thanh của hai vần trắc ở hai câu 7 (nghe gay gắt) và sự hoà hoãn ở hai câu 6 - 8 (nghe êm dịu hơn). Vì thế Cung oán ngâm khúc được làm ra không phải để đọc mà là để ngâm nga.

    >>> Tham khảo Bản dịch

    Tác giả: Nguyễn Gia Thiều


    Trải vách quế gió vàng hiu hắt,
    Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng,
    Oán chi những khách tiêu phòng,
    Mà xui phận bạc nằm trong má đàọ

    Duyên đã may cớ sao lại rủi,
    Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang,
    Vì đâu nên nỗi dỡ dang,
    Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình.

    Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa,
    Vẻ phù dung một đóa khoe tươi,
    Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,
    Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung.

    Áng đào kiểm đâm bông não chúng,
    Khóe thu ba rợn sóng khuynh thành,
    Bóng gương lấp loáng trong mành,
    Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưạ

    Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn,
    Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa,
    Hương trời đắm nguyệt say hoa,
    Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.

    Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
    Nét đan thanh bậc chị chàng Vương,
    Cờ tiên rượu thánh ai đang,
    Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.

    Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã,
    Địch lầu thu đường gã Tiêu Lang,
    Dẫu nghề tay múa miệng xang,
    Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng.

    Tài sắc đã vang lừng trong nước,
    Bướm ong còn xao xác ngoài hiên,
    Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn,
    Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng.

    Hoa xuân nọ còn phong nộn nhị,
    Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang,
    Hồng lâu còn khóa then sương,
    Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành.

    Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,
    Khách công hầu ngấp nghé mong sao,
    Vườn xuân bướm hãy còn rào,
    Thấy hoa mà chẳng lối vào tìm hương.

    Gan chẳng đá khôn đường khá chuyển,
    Mặt phàm kia dễ đến Thiên Thai,
    Hương trời sá động trần ai,
    Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khị

    Ngẫm nhân sự cớ gì ra thế,
    Sợi xích thằng chi để vướng chân,
    Vắt tay nằm nghĩ cơ trần,
    Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa duyên.

    Kìa thế cục như in giấc mộng,
    Máy thuyền vi mở đóng khôn lường,
    Vẻ chi ăn uống sự thường,
    Cũng còn tiền định khá thương lọ là.

    Đòi những kẻ thiên ma bách chiết,
    Hình thì còn bụng chết đòi nau,
    Thảo nào khi mới chôn nhau,
    Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!

    Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
    Ai bày trò bãi bể nương dâu,
    Trắng răng đến thuở bạc đầu,
    Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.

    Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
    Lớp cùng thông như đúc buồng gan,
    Bệnh trần đòi đoạn tâm toan,
    Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt dạ

    Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
    Mặt phong trần nắng rám mùi dâu,
    Nghĩ thân phù thế mà đau,
    Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.

    Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ,
    Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu,
    Sóng cồn cửa bể nhấp nhô,
    Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.

    Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
    Chết đuối người trên cạn mà chơị
    Lò cừ nung nấu sự đời,
    Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.

    Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,
    Thú ca lâu dế khóc canh dài,
    Đất bằng bỗng rấp chông gai,
    Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương.

    Mồi phú quí dữ làng xa mã,
    Bả vinh hoa lừa gã công khanh,
    Giấc Nam Kha khéo bất bình,
    Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

    Sân đào lý mây lồng man mác,
    Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.
    Cánh buồm bể hoạn mênh mang,
    Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh.

    Quyền họa phúc trời tranh mất cả,
    Chút tiện nghi chẳng trả phần ai,
    Cái quay búng sẵn lên trời,
    Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

    Hình mộc thạch vàng kim ố cổ,
    Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong,
    Tiêu điều nhân sự đã xong,
    Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.

    Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,
    Quán thu phong đứng rũ tà huỵ
    Phong trần đến cả sơn khê,
    Tang thương đến cả hoa kia cỏ nàỵ

    Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,
    Kiếp phù sinh trông thấy mà đaụ
    Trăm năm còn có gì đâu,
    Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì!

    Mùi tục lụy đường kia cay đắng,
    Vui chi mà đeo đẳng trần duyên.
    Cái gương nhân sự chiền chiền,
    Liệu thân này với cơ thiền phải naọ

    Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật,
    Mối thất tình quyết dứt cho xong,
    Đa mang chi nữa đèo bòng,
    Vui gì thế sự mà mong nhân tình!

    Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa,
    Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên.
    Thoát trần một gót thiên nhiên,
    Cái thân ngoại vật là tiên trong đờị

    Ý cũng rắp ra ngoài đào chú,
    Quyết lộn vòng phu phụ cho cam.
    Ai ngờ trời chẳng cho làm,
    Quyết đem dây thắm mà giam bông đàọ

    Hẳn túc trái làm sao đây tá,
    Hay tiền nhân hậu quả xưa kiạ
    Hay thiên cung có điều gì,
    Xuống trần mà trả nợ đi cho rồị

    Kìa điểu thú là loài vạn vật,
    Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng.
    Có âm dương, có vợ chồng,
    Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê.

    Đường tác hợp trời kia run rủi,
    Trốn làm sao cho khỏi nhân tình.
    Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh,
    Thử xem con tạo gieo mình nơi naỏ

    Tay nguyệt lão khờ sao có một,
    Bỗng tơ tình vướng gót cung phị
    Cái đêm hôm ấy đêm gì,
    Bóng dương lồng bóng đồ my trập trùng.

    Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ,
    Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêụ
    Cành xuân hoa chúm chím chào,
    Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo maị

    Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió,
    Áo vũ kia lấp ló trong trăng.
    Sênh ca mấy khúc vang lừng,
    Cái thân Tây Tử lên chừng điên Tô.

    Đệm hồng thúy thơm tho mùi xạ,
    Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh,
    Mây mưa mấy giọt chung tình,
    Đình trầm hương khóa một cành mẫu đơn.

    Tiếng thánh thót cung đàn thúy địch,
    Giọng nỉ non ngón địch đan trì.
    Càng đàn càng địch càng mê,
    Càng gay gắt điệu, càng tê tái lòng.

    Mày ngài lẫn mặt rồng lồ lộ,
    Sắp song song đôi lứa nhân duyên.
    Hoa thơm muôn đội ơn trên,
    Cam công mang tiếng thuyền quyên với đờị

    Trên chín bệ mặt trời gang tấc,
    Chữ xuân riêng sớm chực trưa chầụ
    Phải duyên hương lửa cùng nhau,
    Xe dê lọ rắc lá dâu mới vàọ

    Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt,
    Lúc cười sương cợt tuyết đền phong.
    Đóa lê ngon mắt cửu trùng,
    Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêụ

    Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt,
    Lòng quân vương chi chút trên taỵ
    Má hồng không thuốc mà say,
    Nước kia muốn đổ thành này muốn long.

    Vườn Tây Uyển khúc trùng Thanh Dạ,
    Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoạ
    Thừa ân một giấc canh tà,
    Tờ mờ nét ngọc lập lòa vẻ son.

    Trên trướng gấm chí tôn vòi vọi,
    Những khi nào gần gũi quân vương.
    Dẫu mà tay có nghìn vàng,
    Đố ai mua được một tràng mộng xuân.

    Thôi cười nọ lại nhăn mày liễu,
    Ghẹo hoa kia lại diễu gót sen.
    Thân này uốn éo vì duyên,
    Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đờị

    Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
    Uổng mùi hương vương giả lắm thaỵ
    Gẫm như cân trất duyên này,
    Cam công đặt cái khăn này tắc ơ.

    Tranh tỷ dực nhìn ưa chim nọ,
    Đồ liên chi lần trỏ hoa kiạ
    Chữ đồng lấy đấy làm ghi,
    Mượn điều thất tịch mà thề bách niên.

    Hạt mưa đã lọt miền đài các,
    Những mừng thầm cá nước duyên maỵ
    Càng lâu càng lắm điều hay,
    Cho cam công kẻ nhúng tay thùng chàm.

    Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt,
    Nguồn ân kia chẳng tát mà vơị
    Suy di đâu biết cơ trời,
    Bỗng không mà hóa ra người vị vong.

    Đuốc vương giả chí công là thế,
    Chẳng soi cho đến khóe âm nhaị
    Muôn hồng nghìn tía đua tươi,
    Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần.

    Vốn đã biết cái thân câu chõ,
    Cá no mồi cũng khó nhử lên.
    Ngán thay cái én ba nghìn,
    Một cây cù mộc biết chen cành nào!

    Song đã cậy má đào chon chót,
    Hẳn duyên tươi phận tốt hơn ngườị
    Nào hay con tạo trêu ngươi,
    Hang sâu chút hé mặt trời lại râm.

    Trong cung quế âm thầm chiếc bóng,
    Đêm năm canh trông ngóng lần lần.
    Khoảnh làm chi bấy chúa xuân,
    Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôị

    Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ,
    Gác thừa lương thức ngủ thu phong.
    Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,
    Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôị

    Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm,
    Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.
    Thâm khuê vắng ngắt như tờ,
    Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieọ

    Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ,
    Dấu dương xa đám cỏ quanh cọ
    Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu,
    Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.

    Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng,
    Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền.
    Lạnh lùng thay giấc cô miên,
    Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm ụ

    Tranh biếng ngắm trông đồ tố nữ,
    Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâụ
    Một mình đứng tủi ngồi sầu,
    Đã than với nguyệt lại rầu với hoạ

    Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,
    Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
    Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
    Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng.

    Đêm năm canh lần nương vách quế,
    Cái buồn này ai dễ giết nhaụ
    Giết nhau chẳng cái lưu cầu,
    Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!

    Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ,
    Xe thế này có dở dang không?
    Đang tay muốn dứt tơ hồng,
    Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

    Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái,
    Đóa hồng đào hái buổi còn xanh.
    Trên gác phượng, dưới lầu oanh,
    Gối du tiên hãy rành rành song song.

    Bây giờ đã ra lòng rẻ rúng.
    Để thân này cỏ úng tơ mành.
    Đông Quân sao khéo bất tình,
    Cành hoa tàn nguyệt, bực mình hoài xuân.

    Nào lúc tựa lầu Tần hôm nọ,
    Cành liễu mành bẻ thuở đương tơ.
    Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà,
    Mảnh xuân y hãy sờ sờ dấu phong.

    Bây giờ đã ra lòng ruồng rẫy,
    Để thân này nước chảy hoa trôi
    Hóa công sao khéo trêu ngươi,
    Bóng đèn tà nguyệt tẻ mùi ký sinh.

    Cảnh hoa lạc nguyệt minh hôm ấy,
    Lửa hoàng hôn như cháy tấm son.
    Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng,
    Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa!

    Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng,
    Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn.
    Tình buồn cảnh lại vô duyên,
    Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình nàỵ

    Khi trận gió lung lay cành bích,
    Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xạ
    Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra,
    Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn.

    Ai ngờ tiếng dế than ri rỉ,
    Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng.
    Vắng tanh nào thấy vân mồng,
    Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh.

    Khi bóng nguyệt chênh vênh trước ốc,
    Nghe vang lừng tiếng giục bên tai:
    Đè chừng nghĩ tiếng tiểu đòi,
    Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheọ

    Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả,
    Điệu thương xuân khóc ả sương khuệ
    Lạnh lùng nào thấy ỏ ê,
    Khí bi thu sực nức hè lạc hoạ

    Tiếng thúy điện cười già ra gắt,
    Mùi quyền môn thắm rất nên phai.
    Nghĩ nên tiếng cửa quyền ôi,
    Thì thong thả vậy cũng thôi một đời.

    Ví sớm biết lòng trời đeo đẳng,
    Dẫu thuê tiền cũng chẳng mang tình.
    Nghĩ mình lại ngán cho mình,
    Cái hoa đã trót gieo cành biết sao!

    Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm,
    Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon.
    Cùng nhau một giấc hoành môn,
    Lau nhau ríu rít cò con cũng tình.

    Ví sớm biết phận mình ra thế,
    Dải kết điều ỏe ọe làm chi.
    Thà rằng cục mịch nhà quê,
    Dầu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này.

    Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ,
    Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn.
    Muốn đem ca tiếu giải phiền,
    Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu.

    Ngọn tâm hỏa đốt dàu nét liễu,
    Giọt hồng băng thấm ráo làn son.
    Lại buồn đến cảnh con con,
    Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi.

    Trong gang tấc mặt trời xa bấy,
    Phận hẩm hiu nhường ấy vì đâu ?
    Sinh ly đòi rất thời Ngâu,
    Một năm còn thấy mặt nhau một lần.

    Huống chi cũng lạm phần son phấn,
    Luống năm năm chực phận buồng không.
    Khéo vô duyên bấy cửu trùng,
    Son nào nhuộm được má hồng cho tươi.

    Vườn thượng uyển hoa cười với nắng,
    Lối đi về ai chẳng chiều ong.
    Doành Nhâm một dải nông nông,
    Bóng dương bên ấy đứng trông bên này.

    Tình rầu rĩ làm ngây nhĩ mục,
    Chốn phòng không như giục mây mưa.
    Giấc chiêm bao những đêm xưa,
    Giọt mưa cửu hạn còn mơ đến rày.

    Trên chín bệ có hay chăng nhẽ,
    Khách quần thoa mà để lạnh lùng!
    Thù nhau ru hỡi đông phong,
    Góc vườn đãi nắng cầm bông hoa đào.

    Tay tạo hóa cớ sao mà độc,
    Buộc người vào kim ốc mà chơi.
    Chống tay ngồi ngẫm sự đời,
    Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm!

    Nơi lạnh lẽo nơi xem gần gặn,
    Há phai son lạt phấn ru mà.
    Trêu ngươi chi bấy trăng già,
    Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành!

    Lòng ngán ngẫm buồn tênh mọi nỗi,
    Khúc sầu tràng bối rối đường tơ.
    Ngọn đèn phòng động đêm xưa,
    Đài hoa tịnh đế trơ trơ chưa tàn.

    Mà lượng thánh đa đoan kíp bấy,
    Bỗng ra lòng ruồng rẫy vì đâu?
    Bõ già tỏ nỗi xưa sau,
    Chẳng đem nỗi ấy mà tâu ngự cùng.

    Đêm phong vũ lạnh lùng có một,
    Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh.
    Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh,
    Vách sương hót gió đèn xanh lờ mờ.

    Mắt chưa nhắp đồng hồ đã cạn,
    Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao.
    Buồn này mới gọi buồn sao?
    Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình.

    Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi,
    Những hương sầu phấn tủi bao xong.
    Phòng khi động đến cửu trùng,
    Giữ sao cho được má hồng như xưa.

                            Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều
    --------------------------

    Nguồn internet ( Tư liệu mang tính chất tham khảo )

     

    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Anh Tuấn @ 17:20 24/11/2009
    Số lượt xem: 1704
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị đã đến với website Ngữ văn trường THPT Vinh Xuân
    www.vanvx.tk